Kế Hoạch Giảm Điện HVAC Trong 90 Ngày: 5 Điểm Kiểm Soát

Tác giảĐoàn Văn Hoàng
Kế Hoạch Giảm Điện HVAC Trong 90 Ngày: 5 Điểm Kiểm Soát

Tiết kiệm điện HVAC cần một kế hoạch thực hiện có thể kiểm chứng. CEO Đoàn Văn Hoàng – HRT chia sẻ 5 điểm kiểm soát trong 90 ngày giúp doanh nghiệp nhận diện lãng phí, lựa chọn hành động phù hợp và quản lý hiệu quả lâu dài.

Kế hoạch giảm điện HVAC trong 90 ngày: 5 điểm kiểm soát để tối ưu chi phí vận hành

HVAC

Tiết kiệm điện HVAC không chỉ là câu chuyện công nghệ. Đó còn là bài toán quản trị vận hành, kiểm soát chi phí và trách nhiệm của những người trực tiếp quản lý hệ thống.

Khi doanh nghiệp đặt mục tiêu giảm chi phí điện cho nhà máy, khách sạn hoặc tòa nhà văn phòng, câu hỏi tôi quan tâm đầu tiên không phải là nên mua thêm thiết bị gì.

Tôi muốn biết:

  • Ai chịu trách nhiệm về mức tiêu thụ điện của hệ thống HVAC?

  • Dữ liệu nào đang được sử dụng để đánh giá hiệu quả?

  • Bộ phận vận hành có quyền điều chỉnh những thông số nào?

  • Điều kiện nào bắt buộc phải duy trì trong suốt quá trình cải tiến?

  • Khi có kết quả, ai xác nhận và ai tiếp tục duy trì?

Nếu những câu hỏi này chưa được trả lời, một phương án tiết kiệm điện dù có cơ sở kỹ thuật vẫn có nguy cơ không đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Từ góc nhìn của tôi, CEO Đoàn Văn Hoàng – HRT, với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực HVAC, một chương trình giảm điện cần được tổ chức như một dự án vận hành có mục tiêu, người phụ trách và tiêu chí nghiệm thu.

Kế hoạch 90 ngày dưới đây là khung triển khai đề xuất, không phải cam kết rằng mọi công trình đều có thể đạt một tỷ lệ tiết kiệm nhất định trong ba tháng.

Mục tiêu của chương trình là thiết lập cơ sở quản lý, lựa chọn những thay đổi có căn cứ và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục cải thiện hiệu suất lâu dài.

Điểm kiểm soát 1: Xác định đúng trách nhiệm trước khi đặt mục tiêu giảm điện

Ngày 1–10: Thống nhất phạm vi và những điều kiện không được đánh đổi

Trong thực tế, bộ phận quản lý năng lượng có thể được giao nhiệm vụ giảm điện nhưng lại không kiểm soát được toàn bộ lịch sử dụng công trình.

Ví dụ, ban quản lý tòa nhà muốn điều chỉnh thời gian chạy điều hòa. Tuy nhiên, một số khách thuê thường xuyên làm việc ngoài giờ.

Nếu không thống nhất lịch sử dụng, hệ thống có thể bị điều chỉnh nhiều lần, tạo ra bất đồng giữa đội kỹ thuật và người sử dụng.

Tại nhà máy, việc thay đổi thời gian cấp lạnh còn có thể liên quan trực tiếp đến ca sản xuất, yêu cầu công nghệ và điều kiện môi trường của từng khu vực.

Do đó, trước khi phê duyệt mục tiêu tiết kiệm điện HVAC, tôi đề nghị chủ đầu tư thống nhất ba nội dung:

Thứ nhất – Phạm vi quản lý: Đánh giá toàn bộ hệ thống HVAC hay chỉ một khu vực, một cụm Chiller hoặc một nhóm VRV/VRF?

Thứ hai – Điều kiện phục vụ: Nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, độ ổn định và thời gian phục vụ phải đáp ứng những yêu cầu nào?

Thứ ba – Quyền quyết định: Ai được phê duyệt điều chỉnh lịch chạy, nhiệt độ đặt, trình tự điều khiển hoặc chế độ vận hành?

Không nên giao trách nhiệm về điện năng cho một cá nhân nhưng lại không trao đủ quyền phối hợp để họ thực hiện nhiệm vụ.

KPI tiết kiệm điện phải đi cùng KPI chất lượng vận hành

Nếu chỉ sử dụng chỉ số kWh, người quản lý có thể tập trung vào việc giảm thời gian chạy máy mà chưa đánh giá đầy đủ tác động đến công trình.

Theo tôi, tối thiểu cần có hai nhóm chỉ tiêu.

Nhóm hiệu quả năng lượng:

  • Điện năng tiêu thụ trong phạm vi đo đã xác định.

  • Công suất điện theo thời gian.

  • Điện năng tương ứng với khối lượng dịch vụ được cung cấp.

  • Chi phí điện theo cơ cấu giá điện thực tế.

Nhóm điều kiện vận hành:

  • Nhiệt độ và độ ẩm tại các khu vực trọng yếu.

  • Việc đáp ứng yêu cầu thông gió.

  • Tình trạng báo lỗi, dừng máy và sự cố.

  • Mức độ đáp ứng thời gian phục vụ.

  • Các phản ánh có căn cứ từ người sử dụng.

Giảm điện nhưng không duy trì được các yêu cầu kỹ thuật đã thống nhất thì chưa thể xem là hoàn thành mục tiêu.

Điểm kiểm soát 2: Biến dữ liệu điện năng thành danh sách hành động

Kế hoạch giảm điện

Ngày 11–30: Đọc dữ liệu theo hệ thống thay vì chỉ nhìn hóa đơn

Một hóa đơn điện có thể cho biết tổng mức tiêu thụ của công trình. Nhưng nó không tự chỉ ra phần điện nào đang được sử dụng chưa hợp lý.

Vì vậy, tôi đề nghị nhóm kỹ thuật lập sơ đồ tiêu thụ năng lượng gắn với cấu hình HVAC thực tế.

Với hệ thống Chiller, cần xác định ranh giới đo có bao gồm máy lạnh, bơm, tháp giải nhiệt và thiết bị phụ trợ hay không.

Với VRV/VRF, cần phân biệt dữ liệu điện thực đo với thông tin ước tính được cung cấp bởi bộ điều khiển hoặc phần mềm giám sát.

Với hệ thống AHU và thông gió, cần kết hợp thông tin điện năng của quạt với trạng thái hoạt động, lưu lượng, áp suất và yêu cầu phục vụ.

Không phải công trình nào cũng có sẵn công tơ phụ cho từng thiết bị. Khi thiếu dữ liệu, tôi muốn đội kỹ thuật ghi nhận rõ phần nào đã đo được, phần nào chỉ có thể ước tính và phần nào chưa đủ cơ sở kết luận.

Một khoảng trống dữ liệu được công khai vẫn có giá trị hơn một con số tiết kiệm được tính từ giả định không rõ ràng.

Phân loại các dấu hiệu cần điều tra

Không phải mọi bất thường đều đồng nghĩa với lãng phí điện. Chúng là tín hiệu để kỹ sư kiểm tra sâu hơn.

Trường hợp 1: Điện năng ban đêm không giảm như dự kiến

Cần đối chiếu biểu đồ phụ tải với lịch làm việc, yêu cầu làm lạnh liên tục, hệ thống phụ trợ và các thiết bị bắt buộc duy trì.

Không được tự động kết luận rằng thiết bị chạy ban đêm là không cần thiết.

Trường hợp 2: Công suất quạt cao nhưng khu vực vẫn thiếu gió

Cần kiểm tra trở lực đường gió, lọc gió, damper, đặc tính quạt và độ chính xác của cảm biến.

Nếu nguyên nhân là trở lực bất thường, chỉ tăng tốc độ quạt có thể làm tăng điện năng mà không xử lý được vấn đề gốc.

Trường hợp 3: Chiller vận hành nhưng hiệu quả toàn cụm không tương xứng

Cần đánh giá tải lạnh thực tế, trình tự chạy máy, bơm và tháp giải nhiệt.

Chỉ số kW/RT của toàn cụm có thể hữu ích nếu công suất lạnh được xác định bằng phương pháp đáng tin cậy và phạm vi điện năng được tính thống nhất.

Tôi muốn báo cáo kỹ thuật kết thúc bằng một danh sách vấn đề có mức độ ưu tiên, chứ không dừng ở bảng số liệu.

Xác lập điều kiện so sánh

Trong giai đoạn này, đội kỹ thuật cũng cần thu thập các yếu tố ảnh hưởng đến mức tiêu thụ: thời tiết, tỷ lệ sử dụng phòng, giờ hoạt động, tải sản xuất và những thay đổi công năng.

Theo nguyên tắc đo lường và xác minh năng lượng (Measurement & Verification – M&V), dữ liệu trước và sau cải tiến phải được đưa về điều kiện so sánh phù hợp khi các yếu tố ảnh hưởng thay đổi.

Đây cũng là nội dung được đề cập trong 

Tôi không quy định cứng rằng cứ có đủ 30 ngày dữ liệu là được phép kết luận. Khoảng thời gian đo phải đại diện cho chế độ vận hành cần đánh giá. Đối với mục tiêu hiệu quả cả năm, có thể cần dữ liệu dài hơn để xem xét sự thay đổi theo mùa.

Điểm kiểm soát 3: Mỗi phương án tiết kiệm phải có kế hoạch thử nghiệm và phương án khôi phục

Ngày 31–45: Không thay đổi hàng loạt khi chưa biết tác động

Một sai lầm trong cải tiến HVAC là thực hiện nhiều điều chỉnh cùng lúc.

Đội kỹ thuật thay đổi lịch chạy, điều chỉnh nhiệt độ đặt, sửa thuật toán điều khiển và thay đổi tốc độ bơm trong cùng một giai đoạn.

Sau đó điện năng giảm.

Nhưng yếu tố nào tạo ra kết quả? Giải pháp nào không có tác dụng? Có ảnh hưởng bất lợi nào đang bị che khuất?

Rất khó trả lời nếu không có kế hoạch thử nghiệm phù hợp.

Vì vậy, tôi đề nghị mỗi hạng mục quan trọng đều có phiếu thử nghiệm ghi rõ:

  1. Hiện tượng hoặc vấn đề cần xử lý.

  2. Giả thuyết kỹ thuật và thay đổi dự kiến.

  3. Phạm vi thiết bị, khu vực chịu ảnh hưởng.

  4. Chỉ tiêu theo dõi và điều kiện dừng thử nghiệm.

  5. Người phê duyệt, người thực hiện và phương án khôi phục trạng thái trước đó.

Đây không phải thủ tục hành chính bổ sung cho đủ hồ sơ.

Đó là cách bảo vệ quá trình vận hành khi doanh nghiệp thử nghiệm một phương án mới.

Ví dụ áp dụng cho hệ thống VRV/VRF

Một tòa nhà có nhiều khu vực sử dụng với thời gian khác nhau.

Thay vì thay đổi đồng loạt nhiệt độ cài đặt, đội kỹ thuật có thể lựa chọn một khu vực phù hợp để đánh giá khả năng quản lý lịch chạy và phân vùng.

Trước khi thử nghiệm cần kiểm tra cơ chế điều khiển trung tâm, quyền điều chỉnh tại chỗ, tình trạng cảm biến và các yêu cầu sử dụng ngoài giờ.

Trong quá trình thử nghiệm, phải theo dõi cả điện năng và điều kiện tiện nghi.

Nếu xuất hiện phản ánh hợp lệ hoặc thông số vượt giới hạn đã thống nhất, việc điều chỉnh cần được xem xét hoặc khôi phục.

Ví dụ áp dụng cho hệ thống Chiller

Với một cụm Chiller có nhiều máy, nhóm kỹ thuật có thể đánh giá trình tự huy động thiết bị theo tải thực tế.

Tuy nhiên, thay đổi trình tự chạy máy phải xem xét công suất tối thiểu, khả năng điều chỉnh tải, lưu lượng nước, điều kiện trao đổi nhiệt và giới hạn vận hành của nhà sản xuất.

Nếu có thay đổi liên quan tới bơm hoặc tháp giải nhiệt, phải xác định rõ ảnh hưởng tới hiệu quả toàn cụm.

Không nên nhìn thấy công suất của một thiết bị giảm rồi mặc nhiên kết luận hệ thống đã tiết kiệm.

Ví dụ áp dụng cho AHU và thông gió

Một AHU có thể vận hành theo lịch cố định ngay cả khi mức sử dụng khu vực thay đổi đáng kể.

Đây là tình huống đáng đánh giá, nhưng không có nghĩa được phép cắt giảm lưu lượng gió tùy ý.

Cần kiểm tra yêu cầu gió ngoài, áp suất khu vực, độ ẩm, chất lượng không khí, yêu cầu công nghệ và giới hạn của hệ thống điều khiển.

Với phòng sạch, khu vực có yêu cầu áp suất hoặc những không gian đặc thù, điều kiện an toàn và công năng phải được ưu tiên trước mục tiêu năng lượng.

Tôi yêu cầu đội kỹ thuật chứng minh phương án vận hành vẫn phù hợp trước khi coi đó là giải pháp tiết kiệm.

Điểm kiểm soát 4: Xác minh kết quả bằng dữ liệu, không nghiệm thu bằng cảm nhận

Ngày 46–75: Kiểm tra hiệu quả và các tác động liên quan

Có một câu tôi không muốn thấy trong báo cáo nghiệm thu:

"Thiết bị chạy tốt, điện năng có vẻ đã giảm."

Đối với một chương trình tiết kiệm điện HVAC, kết quả phải gắn với tiêu chí đã thống nhất trước khi triển khai.

Ví dụ, nếu mục tiêu là cải thiện hiệu quả toàn cụm Chiller, báo cáo cần thể hiện mức tiêu thụ điện trong phạm vi đo, tải lạnh tương ứng và các điều kiện vận hành có ảnh hưởng.

Nếu mục tiêu là kiểm soát thời gian chạy VRV/VRF, phải chứng minh lịch vận hành mới đáp ứng nhu cầu thực tế mà không làm gián đoạn những khu vực cần phục vụ.

Nếu mục tiêu là cải thiện hệ thống quạt, cần kiểm tra cả công suất điện và khả năng duy trì lưu lượng, áp suất cần thiết.

Phân biệt ba kết quả trong báo cáo

Kết quả kỹ thuật: Hạng mục điều chỉnh có hoạt động đúng chức năng, đúng trình tự điều khiển và giới hạn cho phép không?

Kết quả năng lượng: Điện năng thay đổi bao nhiêu trong phạm vi và điều kiện so sánh đã thống nhất?

Kết quả kinh tế: Chi phí điện thực tế thay đổi như thế nào sau khi xét biểu giá, công suất cực đại khi có liên quan và chi phí thực hiện giải pháp?

Ba kết quả này có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau.

Một phương án có thể giảm điện năng nhưng chưa mang lại thời gian hoàn vốn phù hợp.

Ngược lại, một điều chỉnh có thể cải thiện độ ổn định vận hành nhưng chưa tạo ra mức tiết kiệm đủ lớn để xác minh riêng biệt.

Tôi muốn các kết quả được phản ánh đúng bản chất thay vì cố gắng đưa mọi lợi ích về một tỷ lệ phần trăm.

Kiểm tra bằng chứng commissioning

Đối với những thay đổi ảnh hưởng đến trình tự điều khiển, việc xác minh chức năng cần được thực hiện theo phạm vi đã thỏa thuận.

ASHRAE Guideline 36 đưa ra các trình tự điều khiển hiệu suất cao cho những nhóm hệ thống HVAC thuộc phạm vi hướng dẫn, nhằm hỗ trợ hiệu quả năng lượng, độ ổn định và phát hiện lỗi.

Đây là nguồn tham khảo hữu ích khi đánh giá chiến lược điều khiển, nhưng không thể áp dụng máy móc cho mọi cấu hình HVAC hiện hữu.

Tôi đặc biệt quan tâm đến việc kiểm tra các tình huống chuyển đổi trạng thái: khởi động, dừng, vận hành tải thấp, thay đổi nhu cầu và xử lý cảnh báo.

Một hệ thống có thể hoạt động tốt trong một thời điểm nhưng chưa chắc ổn định ở những chế độ khác.

Vì vậy, việc nghiệm thu phải dựa trên phạm vi kiểm tra và bằng chứng phù hợp, không chỉ một ảnh chụp màn hình BMS.

Điểm kiểm soát 5: Bàn giao phương pháp vận hành để duy trì hiệu quả sau 90 ngày

Ngày 76–90: Chuẩn hóa kết quả thành công việc thường xuyên

Một dự án tối ưu HVAC không thực sự hoàn thành nếu sau vài tháng, mọi thông số lại được đưa về cách vận hành cũ mà không có lý do kỹ thuật.

Đây là lý do tôi xem công tác bàn giao quan trọng không kém quá trình thử nghiệm.

Sau khi một thay đổi được chấp thuận, cần cập nhật những tài liệu có liên quan:

  • Trình tự vận hành đã được phê duyệt.

  • Danh sách thông số cài đặt và giới hạn cho phép.

  • Phân quyền thay đổi thông số.

  • Hướng dẫn xử lý khi phát sinh cảnh báo.

  • Kế hoạch kiểm tra định kỳ.

  • Phương pháp tiếp tục theo dõi hiệu quả năng lượng.

Đội vận hành phải biết khi nào được điều chỉnh, trường hợp nào cần xin phê duyệt và dữ liệu nào phải lưu lại.

Tổ chức lịch đánh giá sau cải tiến

Tôi đề xuất thiết lập ba cấp độ theo dõi.

Theo ca hoặc theo ngày: Nhân sự vận hành kiểm tra các cảnh báo, trạng thái bất thường và những thông số trọng yếu.

Theo tuần: Kỹ sư phụ trách xem xét xu hướng điện năng, hiệu suất và các thay đổi trong nhu cầu sử dụng.

Theo tháng: Người quản lý đối chiếu kết quả với mục tiêu, điều kiện thực tế và chi phí vận hành để đưa ra quyết định tiếp theo.

Tần suất có thể điều chỉnh theo quy mô, đặc tính công trình và năng lực hệ thống giám sát.

Điều quan trọng là báo cáo phải dẫn tới hành động cụ thể. Nếu thông số bất thường lặp lại nhiều tuần nhưng không có người chịu trách nhiệm xử lý thì việc thu thập dữ liệu chưa tạo ra giá trị quản trị.

Cân nhắc đầu tư thiết bị trên cơ sở vòng đời

Sau giai đoạn tối ưu vận hành, một số công trình có thể vẫn cần đầu tư cải tạo lớn.

Khi đó, HRT đề xuất đánh giá thiết bị hoặc giải pháp mới dựa trên khả năng đáp ứng tải, chi phí đầu tư, điện năng dự kiến, bảo trì, độ tin cậy, thời gian dừng máy và khả năng tích hợp.

Quyết định có thể là nâng cấp điều khiển, cải tạo phân phối gió/nước hoặc thay thế một phần hay toàn bộ thiết bị.

Không có yêu cầu rằng chương trình 90 ngày nhất thiết phải kết thúc bằng một hợp đồng mua máy mới.

Bảng KPI quản lý điện năng HVAC mà tôi muốn thấy sau cải tiến

Thay vì một báo cáo dài nhưng khó đưa ra quyết định, ban điều hành cần một bảng theo dõi có thể đọc nhanh và truy xuất được dữ liệu gốc.

Nhóm theo dõi Chỉ tiêu đề xuất Yêu cầu đánh giá
Điện năng kWh trong phạm vi HVAC So sánh theo điều kiện tương ứng
Hiệu suất kW/RT toàn cụm Chiller, nếu đủ dữ liệu đo Xác định tải lạnh và ranh giới đo
Chất lượng phục vụ Nhiệt độ, độ ẩm, yêu cầu thông gió Đối chiếu tiêu chí công trình
Độ tin cậy Sự cố, cảnh báo và thời gian gián đoạn Ghi rõ nguyên nhân và xử lý
Duy trì kết quả Số lần thay đổi thông số, sai lệch so với cấu hình đã duyệt Có nhật ký và người phê duyệt
Hiệu quả tài chính Chi phí tiết kiệm được và chi phí triển khai Sử dụng dữ liệu, giả định minh bạch

Các ngưỡng đạt hoặc không đạt cần được xác lập riêng cho từng công trình. Bảng trên không thay thế hồ sơ thiết kế, kế hoạch M&V hoặc tiêu chí nghiệm thu hợp đồng.

Ba loại công trình cần ba cách quản lý giảm điện khác nhau

Kế hoạch giảm điện HVAC

Tòa nhà văn phòng: Tập trung vào biến động nhu cầu sử dụng

Với văn phòng, nhu cầu điều hòa có thể thay đổi giữa ngày làm việc, cuối tuần và các khu vực có tỷ lệ sử dụng khác nhau.

Tôi sẽ yêu cầu xác định lịch hoạt động thực tế, các khu vực vận hành ngoài giờ và cơ chế phối hợp với khách thuê.

Giải pháp tốt không nhất thiết là giảm giờ chạy của toàn tòa nhà. Có thể cần phân vùng tốt hơn để những khu vực còn người vẫn được phục vụ trong khi các khu vực không sử dụng được quản lý phù hợp.

Kết quả phải được kiểm tra bằng điện năng và chất lượng phục vụ của các khu vực liên quan.

Nhà máy sản xuất: Tiết kiệm điện không được làm tăng rủi ro sản xuất

Đối với nhà máy, tải lạnh không chỉ liên quan đến số lượng nhân sự.

Máy móc, dây chuyền, khí thải, độ ẩm và yêu cầu công nghệ có thể quyết định chế độ vận hành HVAC.

Nếu thay đổi một hệ thống ảnh hưởng đến nhiều dây chuyền, tôi muốn bộ phận sản xuất, bảo trì và kỹ thuật HVAC cùng thống nhất phương án.

Trong trường hợp này, ưu tiên không chỉ là giảm kWh mà còn là khả năng duy trì điều kiện công nghệ và tránh gián đoạn.

Một phương án tạo ra khoản tiết kiệm điện nhỏ nhưng làm tăng rủi ro dừng dây chuyền chưa chắc là lựa chọn kinh tế.

Khách sạn và resort: Cân bằng năng lượng với trải nghiệm khách hàng

Khách sạn có sự khác biệt đáng kể giữa phòng ngủ, sảnh, nhà hàng, phòng hội nghị và khu dịch vụ.

Công suất lạnh yêu cầu có thể thay đổi mạnh theo lượng khách, lịch sự kiện và điều kiện thời tiết.

Tôi sẽ ưu tiên rà soát khả năng phối hợp giữa lịch đặt phòng, tình trạng sử dụng thực tế và chế độ điều hòa trong phạm vi hệ thống cho phép.

Nhưng cần tránh việc tiết kiệm điện làm phòng nhận khách không đạt điều kiện tiện nghi hoặc các không gian có yêu cầu kiểm soát ẩm bị vận hành không phù hợp.

Hiệu quả năng lượng phải hỗ trợ chất lượng dịch vụ, không đi ngược mục tiêu kinh doanh của khách sạn.

Góc nhìn CEO Đoàn Văn Hoàng: Tôi muốn giảm chi phí bằng kỷ luật vận hành, không bằng khẩu hiệu

Trong công việc điều hành HRT, tôi luôn đánh giá cao những đề xuất kỹ thuật có thể chuyển thành hành động cụ thể.

Một kỹ sư báo cáo rằng hệ thống cần được tối ưu là chưa đủ.

Tôi muốn biết tối ưu ở đâu, kết quả cần đạt là gì, ai thực hiện và bằng chứng nào được dùng để xác nhận.

Một quản lý đề xuất đầu tư thiết bị mới cũng cần làm rõ vấn đề nào mà thiết bị hiện tại không thể giải quyết một cách hợp lý.

Tôi nhìn một chương trình quản lý điện năng HVAC qua ba trách nhiệm:

Hiểu Đúng: Không vội lựa chọn công nghệ khi chưa hiểu nhu cầu sử dụng, cấu hình hệ thống và vấn đề thực tế.

Rõ Ràng: Mỗi nhiệm vụ có người phụ trách, phạm vi thực hiện, tiêu chí đánh giá và hồ sơ kiểm chứng.

Tận Tâm: Không kết thúc trách nhiệm ở thời điểm bàn giao. Hiệu quả cần được theo dõi trong quá trình công trình tiếp tục hoạt động.

Tôi cho rằng thành công của một chương trình giảm điện không chỉ là con số xuất hiện trong báo cáo cuối kỳ.

Thành công còn thể hiện ở việc doanh nghiệp hiểu hệ thống của mình hơn, đội vận hành có khả năng kiểm soát tốt hơn và các quyết định đầu tư tiếp theo có cơ sở đáng tin cậy hơn.

Đối với tôi, tiết kiệm năng lượng bền vững phải được hình thành từ cách quản lý hằng ngày.

Những câu hỏi thường gặp khi lập kế hoạch giảm điện HVAC

Có bắt buộc phải lắp công tơ điện riêng cho từng thiết bị không?

Không phải trong mọi trường hợp. Phương án đo phụ thuộc vào phạm vi cải tiến, độ chính xác cần thiết và khả năng khai thác dữ liệu hiện hữu.

Tuy nhiên, nếu muốn xác minh hiệu quả của một hạng mục riêng biệt, cần có phương pháp đo và đánh giá phù hợp. Công tơ phụ có thể là một giải pháp, nhưng không phải lựa chọn duy nhất.

Kế hoạch 90 ngày có đủ để xác nhận mức tiết kiệm điện cả năm không?

Không nhất thiết.

90 ngày có thể phù hợp để tổ chức khảo sát, thử nghiệm và thiết lập cơ chế quản lý. Nhưng nếu tải lạnh thay đổi nhiều theo mùa, dữ liệu ngắn hạn chưa chắc đủ đại diện cho hiệu quả cả năm.

Khi đánh giá tiết kiệm điện hàng năm, phải xét điều kiện thời tiết, nhu cầu sử dụng và phương pháp ngoại suy hoặc đo lường đã thống nhất.

Có nên đặt mục tiêu tiết kiệm điện theo tỷ lệ phần trăm ngay từ đầu?

Có thể đặt một mức kỳ vọng để lập kế hoạch, nhưng cần phân biệt mục tiêu quản trị với mức tiết kiệm đã được chứng minh.

Tôi không khuyến nghị cam kết một tỷ lệ cố định khi chưa có thông tin về hiện trạng và điều kiện đo lường.

BMS có bắt buộc trong chương trình quản lý điện năng HVAC không?

Không bắt buộc đối với mọi quy mô.

Một hệ thống nhỏ có thể sử dụng công tơ, thiết bị đo độc lập và nhật ký vận hành phù hợp.

Với công trình lớn có nhiều thiết bị và vùng sử dụng, BMS hoặc hệ thống giám sát năng lượng có thể hỗ trợ thu thập dữ liệu và quản lý điều khiển hiệu quả hơn, nếu được thiết kế, cấu hình và vận hành đúng.

Ai cần tham gia xác nhận kết quả?

Tùy phạm vi dự án, có thể gồm đại diện chủ đầu tư, ban quản lý kỹ thuật, đơn vị vận hành, nhà thầu thực hiện và bộ phận sử dụng công trình.

Các bên cần thống nhất phương pháp đo, điều kiện nghiệm thu và trách nhiệm xử lý tồn tại trước khi triển khai.

HRT đồng hành cùng doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tối ưu vận hành HVAC

Với các công trình thương mại và công nghiệp, HRT định hướng tiếp cận bài toán tiết kiệm năng lượng từ điều kiện vận hành thực tế.

Các hạng mục HRT có thể phối hợp tư vấn và triển khai theo phạm vi được thống nhất gồm:

  • Khảo sát hiện trạng và đánh giá vận hành HVAC.

  • Kiểm tra dữ liệu điện năng, tải và các thông số kỹ thuật.

  • Đánh giá phương án vận hành Chiller, VRV/VRF, AHU/FCU.

  • Rà soát hệ thống điều khiển và BMS.

  • Đề xuất cải tạo, nâng cấp thiết bị khi có cơ sở kỹ thuật.

  • Lập phương án kiểm tra, chạy thử và xác minh kết quả.

  • Hỗ trợ xây dựng quy trình quản lý vận hành sau cải tiến.

Mỗi công trình có những điều kiện khác nhau, vì vậy phương án cụ thể cần được xác định sau khảo sát.

Doanh nghiệp có thể tham khảo thêm bài viết Energy Saving HVAC: Giải pháp tiết kiệm điện hiệu quả để tìm hiểu tổng quan các nhóm giải pháp kỹ thuật.

Kết luận: 90 ngày để thiết lập nền tảng quản lý điện năng HVAC có trách nhiệm

Nếu được giao xây dựng một chương trình giảm điện HVAC, tôi sẽ không bắt đầu bằng việc yêu cầu các kỹ sư đưa ra ngay một tỷ lệ tiết kiệm.

Tôi sẽ yêu cầu một kế hoạch thể hiện năm điểm kiểm soát:

  1. Xác định phạm vi và trách nhiệm.

  2. Có dữ liệu để nhận diện vấn đề thực tế.

  3. Thử nghiệm thay đổi theo phương án được phê duyệt.

  4. Xác minh hiệu quả và điều kiện vận hành.

  5. Bàn giao phương pháp quản lý để duy trì kết quả.

Sau 90 ngày, chưa chắc mọi công trình đã đạt đầy đủ mục tiêu tài chính. Nhưng một chương trình được tổ chức đúng cần giúp doanh nghiệp có cơ sở tốt hơn để biết điều gì đã cải thiện, điều gì chưa đạt và cần hành động tiếp theo như thế nào.

CEO ĐOÀN VĂN HOÀNG – HRT

Hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Công nghệ Nhiệt – Lạnh – HVAC.

CÔNG TY TNHH ĐIỀU HÒA THÔNG GIÓ HRT

Thẻ bài viết: kế hoạch giảm điện HVAC, quản lý điện năng HVAC, tối ưu vận hành HVAC, KPI năng lượng HVAC, kiểm soát chi phí điện, commissioning HVAC, vận hành hệ thống Chiller, quản lý VRV VRF, hệ thống BMS, đo lường hiệu quả năng lượng, CEO Đoàn Văn Hoàng, HRT

Đoàn Văn Hoàng - HRT
Đoàn Văn Hoàng - HRT

Mr. Đoàn Văn Hoàng – Chủ tịch sáng lập HRT (Thương hiệu HRT – viết tắt của Heating – Refrigeration – Technology, được bảo hộ với Giấy chứng nhận nhãn hiệu số 191255) và hiện là Giám đốc Công ty TNHH Điều Hòa Thông Gió HRT và Chủ tịch Công ty TNHH HVAC GREEN là một trong những nhà thầu HVAC uy tín tại Việt Nam với hơn 20+ năm kinh nghiệm trong ngành Nhiệt – Lạnh - HVAC (Điều Hòa Không Khí, Thông Gió và Sưởi Ấm).

Tốt nghiệp Đại học Thủy Sản Nha Trang năm 2007, ông không ngừng theo đuổi đam mê công nghệ, từng bước xây dựng HRT trở thành đối tác chiến lược của Daikin, Mitsubishi, LG, Gree...

Hiện ông là Cựu Chủ tịch Nhiệm kỳ 20 & 21 BNI Action Chapter – và Đại Sứ Chapter BNI Power từ ngày 01/4/2026, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần kết nối – chia sẻ – phát triển trong cộng đồng doanh nhân BNI Việt Nam.